VACC VACC VACC
Mô hình cao đẳng cộng đồng
PHÂN TẦNG ĐẠI HỌC: LỜI GIẢI CHO NHIỀU BÀI TOÁN GIÁO DỤC
(05/04/2010) - Bài viết tóm tắt kinh nghiệm phân tầng đại học trên toàn thế giới, đồng thời đề xuất một số đề nghị áp dụng trong thực tiễn Việt Nam

Phân tầng đại học không phải là thuật ngữ mới trong giáo dục đại học hiện đại. Nó hình thành ngay trong quá trình xây dựng và phát triển của mỗi hệ thống. Phân tầng đại học là phản ảnh rõ nét và cụ thể nhất của quy hoạch mạng lưới đại học, cao đẳng; vừa là bước thực hiện vừa là kết quả của chiến lược phát triển quốc gia nói chung và chiến lược giáo dục nói riêng.

Trong khi giáo dục sau trung học (post-secondary education) bao gồm tất cả các loại hình đào tạo (sau tốt nghiệp trung học) dạy chữ và dạy nghề ngắn hạn hay dài hạn, giáo dục đại học (higher education hoặc là advanced education trong một số hệ thống) chủ yếu đề cập các loại hình dài hạn dẫn tới việc cấp các văn bằng cao đẳng, đại học và cao hơn. Phân tầng đại học hiểu một cách cụ thể là sự phân chia hệ thống đại học thành nhiều loại trường như có tham gia nghiên cứu khoa học, đào tạo hàn lâm hay nghề nghiệp với sự đa dạng các chương trình, nội dung, thời gian học và văn bằng cấp, đối tượng sinh viên và khoảng cách địa lý. Do vậy, phân tầng đại học không chỉ là yêu cầu của bản thân hệ thống mà còn là đa dạng hóa đại học nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của cộng đồng, của người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu học tập đa dạng của các đối tượng khác nhau.

Trên thế  giới, việc phân tầng đại học nhìn chung không khác nhau lắm giữa các hệ thống. Các hệ thống đều bao gồm công – tư, dạy chữ - dạy nghề, ngắn hạn – dài hạn, tinh hoa – đại chúng – phổ cập, cao đẳng - đại học (có khi có cả đào tạo cơ bản ở trình độ trung cấp), lợi nhuận – phi lợi nhuận, qui mô nhỏ - vừa – lớn. Như ở Mỹ, có ba loại trường: đại học nghiên cứu có khoảng 150 trường đào tạo đến bậc tiến sĩ, loại đại học 4 năm được đào tạo khoảng 2000 trường đến trình độ thạc sĩ, và cao đẳng cộng đồng khoảng 1.600 trường được đào tạo đến trình độ á cử nhân (associate degrees). Singapore cũng có 3 loại trường: đại học nghiên cứu đào tạo hoàn chỉnh đến tiến sĩ như ĐH quốc gia Singapore (NUS), ĐH công nghệ Nanyang (NTU); cao đẳng bách khoa (polytechnics) như Temasek Polytechnic hay Ngee Ann Polytechnic đào tạo bán hay toàn thời gian và cấp chứng chỉ vả diploma (cao đẳng) cho nhân lực quản lý ở trình độ trung bình (middle level) để hỗ trợ cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội; và cuối cùng là các học viện công nghệ cấp chứng chỉ nghề sơ trung cấp. Ở Canada thì chi tiết hơn với 6 loại trường: đại học nghiên cứu đào tạo đến tiến sĩ như ĐH Toronto, McGill, British Columbia hay Alberta; đại học ứng dụng đào tạo hệ cử nhân; học viện bách khoa đào tạo nghề ngăn hạn và cấp chứng chỉ; cao đẳng cộng đồng giảng dạy chương trình đại cương 2 năm để chuyển tiếp và đào tạo nghề; học viện độc lập (university college) đào tạo cử nhận thiên về các ngành nghệ thuật và khoa học cơ bản, có thể đào tạo sau đại học và nghiên cứu tương ứng khi có yêu cầu cao; và cuối cùng là học viện nghệ thuật và văn hóa chuyên ngành.

Kinh nghiệm phân tầng đại học trên thế giới có thể tóm tắt như sau:

1.      Phân tầng đại học là phản ánh trung thực, cụ thể của chiến lược phát triển quốc gia, chiến lược phát triển giáo dục. Việc mở bao nhiêu ngành nghề, loại hình, qui mô, trình độ…là do sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự phát triển vùng miền, cộng đồng địa phương quyết định. Nhiệm vụ của đại học là phải nắm bắt và chuyển đổi cho được sự phát triển này thành kế hoạch chiến lược và kế hoạch hành động của mình.

2.      Sư tồn tại và phát triển của mỗi loại trường là do nó đáp ứng cho một số đối tượng người học nhất định, chương trình và trình độ đào tạo nhất định. Thí dụ như cao đẳng cộng đồng ở Mỹ phát triển hơn 100 năm qua, nhưng rất hiếm có trường lại muốn trở thảnh đào tạo 4 năm. Chính vì việc tập trung xây dựng một loại trường sẽ làm cho chất lượng ồn định, tổ chức và đội ngũ chuyên nghiệp hơn, và nhất là tìm ra và thực hiện nhiều sáng kiến để phát triển thành các trường đẳng cấp quốc tế.

3.      Đầu tư trong xây dựng các loại trường cũng khác nhau, trong đó, đầu tư cho bậc cao đẳng thường đỡ tốn kém hơn. Chính vì đó, loại hình cao đẳng (thường là kết hợp học thuật và dạy nghề) thường được phát triển dễ dàng, nhiều và nhanh nhất trong hệ thống. Các cộng đồng, địa phương hay tổ chức nghề nghiệp nào cũng đều có khả năng và ý muốn tham gia xây dựng trường cao đẳng một khi xác định được các mục tiêu cụ thể, đội ngũ và các nguồn lực khác có sẵn và nhất là khi nó cung cấp cho cộng đồng địa phương sản phẩm (sinh viên tốt nghiệp) phù hợp với nhu cầu phát triển của chinh mình (góp phần chuyên biệt hóa đội ngũ lao động), vừa tránh lãng phí do không sử dụng được cả về phía xã hội, nhà trường, nhà sử dụng lao động lẫn của người học. Do đó, cần coi phân tầng đại học là lời giải hiệu quả cho các bài toán qui mô – chất lượng, đào tạo – sử dụng và nhu cầu xã hội, học chữ - học nghề, và bài toán nâng cao trách nhiệm của cộng đồng địa phương.

4.      Trong các hệ thống có phân quyền và phân cấp cao, đại học có quyền tự chủ (autonomy) cao nhất cho dù có nhiều cơ quan chủ quản khác nhau. Tương ứng, các đơn vị trực thuộc trong nhà trường đều được phân cấp và thực sự có quyền lực trong giải quyết công việc. Điều này giải thích vì sao trong các đại học hiện đại, bộ môn và giáo sư được coi trọng do họ có quyền lực trong công việc. Họ có quyền mời và làm việc với chuyên gia trong, ngoài nước để tham gia và giải quyết hiệu quả các công việc. Phân tầng đại học góp phần nâng cao tính tự chủ của đại học.

5.      Phân tầng đại học góp phần làm công tác kiểm định chất lượng (accreditation) được chuyên môn hóa do việc đối chiếu so sánh các trường trong cùng một loại dễ dàng và có cơ sở hơn. Và trên thực tế ở một số nước, tổ chức hay hiệp hội các loại trường cũng tham gia kiểm định chất lượng. 

6.      Thành lập hiệp hội các trường trong cùng một loại không chỉ giúp các trường thêm thông tin hay giúp đỡ lẫn nhau, mà điều quan trọng chinh là việc đề nghị các thay đổi phù hợp hơn về cơ chế, chinh sách có liên quan (kể cả việc thành lập và hoạt động trường) đối với chinh phủ, và qua đó, thêm một kênh thông tin quan trọng trong việc xây dựng các định hướng phát triển.

7.      Việc xây dựng trường đẳng cấp quốc tế (world class) không chỉ là đặc quyền của loại trường hàng đầu của các hệ thống, thí dụ như đại học nghiên cứu. Các loại trường khác đều có thể trở thành đẳng cấp quốc tế khi một trong những thuộc tính cơ bản không thể thiếu được là các ngành học, chương trình học, dịch vụ và sản phẩm có chất lượng không chỉ phục vụ cho sinh viên và nhu cầu trong nước mà còn mở rộng ra cho sinh viên quốc tế, nhất là ở ngoài biên giới địa lý.

8.      Phân tầng đại học không chỉ là sản phầm của hệ thống công lập vì công hay tư chủ yếu lả sự phân biệt về nguồn tài lực. Đại học công (public) nhận nguồn kinh phí chủ yếu từ ngân sách nhà nước trong khi nguồn kinh phí của đại học tư chủ yếu từ các nguồn thu khác như học phí, hợp đồng, sản phẩm, đóng góp của các tổ chức, cổ đông, mạnh thường quân hay cựu sinh viên… Do vậy, trong tên gọi của đại học thế giới chỉ là ĐH X hay ĐH Y, chứ không có ĐH công lập X hay ĐH tư thục Y. Phải bình đẳng từ tên gọi trước khi yêu cầu sự bình đẳng về chất lương, phục vụ hay các vấn đề khác. Tương tự, trong giáo dục hiện đại, cũng không có ĐH tổng hợp mà chỉ là ĐH như Đại học Harvard hay ĐH Oxford.

9.      Đại học phi lợi nhuận (non-profit) hay có lợi nhuận (for profit) đều tồn tại trong các hệ thống. ĐH công lập do nguồn đầu tư chủ yếu từ chinh phủ nên chỉ có thể là ĐH phi lợi nhuận. ĐH tư có lợi nhuận được chia lãi trong cổ đông sau khi đóng đầy đủ nghĩa vụ thuế trong khi ĐH tư phi lợi nhuận không phải đóng thuế và cũng không chia lợi nhuận.

10.  Các đại học dù ở tầng hay loại nào đều có thể tổ chức đào tạo hay bồi dưỡng ngắn hạn, nhất là phục vụ cho nhu cầu học tập khác nhau. Vào đại học là các đối tượng người học khác nhau, kể cả những người chưa hề tốt nghiêp cấp 3 theo cách nghĩ trước đây. Điều này giúp xây dựng nền tảng, ý thức và thói quen học tập suốt đời. Các chương trình đào tạo trong trường đều liên thông với nhau do liên thông là thuộc tính và đòi hỏi của bản thân hệ thống, chứ không phải đơn thuần là mệnh lệnh hành chinh.

Trong hội nhập và toàn cầu hóa, nhất là đối với việc xây dựng không gian hợp tác chung về giáo dục đại học từ Tuyên bố Bologna, đại học nước ta cần có những bước đi phù hợp. Một số đề nghị sau có thể áp dụng trong thực tiễn Việt Nam:

1.      Kiên trì xây dựng mô hình đại học ba tầng: đại học nghiên cứu, đại học đa ngành và các trường cao đẳng. Trong đại học đa ngành, đầu tư xây dựng các trường đại học nghiên cứu từ các đại học như ĐH Quốc gia, đại học vùng, các đại học trong điểm và các đại học có đủ điều kiện khác. Đaị học nghiên cứu tổ chức giảng dạy và cấp đến văn bằng tiến sĩ, trong khi các đại học đa ngành cấp đến thạc sĩ và cao đẳng cấp đến cao đẳng.

2.      Cao đẳng phải là cái nền trong hình tháp phát triển của giáo dục đại học, trong đó, cao đẳng cộng đồng là then chốt do tính gắn bó của nó với địa phương, cộng đồng. Mỗi địa phương đều có thể thành lập cao đẳng cộng đồng để tăng qui mô đào tạo thích hợp, do đầu tư các nguồn lực (kể cả nhân lực) vừa tầm, xây dựng ngành và chương trình học phù hợp với sự phát triển tại chỗ và tạo ngay được việc làm sau khi tốt nghiệp, người học không phải lo nghĩ bỏ học vì học gần nhà nên đỡ rất nhiều chi phí, các chinh sách hỗ trợ, kể cả cho vay, dễ quản lý, chất lượng đào tạo dễ đảm bảo, và đặc biệt nâng cao tính trách nhiệm của đia phương.

3.      Cao đẳng cộng đồng phải đảm bảo thực hiện hai chức năng chinh: đào tạo giai đoạn đại cương để chuyển tiếp cho đại học và đào tạo nghề, trong đó, đào tạo nghề có vai trò vô cùng quan trọng do cung cấp nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Trong khi ở các nước, nhất là các nước công nghiệp phát triển, chức năng thứ hai là chủ yếu, thì ở nước ta lại là chức năng thứ nhất, đào tạo chuyển tiếp. Không ít cao đẳng khi thành lập đều nhắm đến việc trở thành đại học sau 4, 5 năm hoạt động. Điều này không những làm cho đào tạo nghề bị xem nhẹ mà còn không đảm bảo chất lượng đào tạo khi lên đại học.

4.      Đào tạo nghề chưa phát triển mạnh ở nước ta, ngoài các yếu tố tâm lý, văn hóa, còn do đào tạo manh mún, thiếu tập trung và thiếu đào tạo mũi nhọn, thiếu việc làm, nếu có việc làm thì lương và thu nhập thường trả thấp hơn, và đặc biệt, thiếu liên thông giữa dạy chữ và dạy nghề, để người học khi cần thiết có thể quay lại học chữ dễ dàng. Việc có nhiều cơ quan chủ quản cũng làm cho các nguồn lực phân tán và việc quản lý thiếu thống nhất. Đào tạo nghề phát triển là điều kiện để đại học không phải là đích đến duy nhất sau giáo dục trung học.

5.      Nhiều đại học ở nước ta nhận được đầu tư lớn của nhà nước trong nhiều năm, tập trung đội ngũ nhân lực mạnh mẽ và các nguồn lực khác dồi dào nhưng vẫn chưa trở thành đại học nghiên cứu điển hình, là đàu tàu để kéo cỗ máy đại học tiến lên là điều lạ đối với bè bạn quốc tế. Nhất thiết phải gắn đầu tư và trách nhiệm đối với việc xây dựng các trường hàng đầu, cấu phần không thể thiếu được của phân tầng đại học. Đại học nghiên cứu không những giúp nối kết hữu cơ hai mục tiêu chủ yếu của giáo dục đại học là đào tạo và nghiên cứu, mà còn góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo, nhất là ở bậc cao nhất tiến sĩ.

6.      Phân tầng đại học khó có thể thưc hiện khi công tác kế hoạch hóa bị xem nhẹ. Đây là điểm yếu của từng trường và cả hệ thống giáo dục, là hệ quả của bài toán tự chủ và giải trình trách nhiệm xã hội (accountability). Kinh nghiệm thế giới về tự chủ đại học thể hiện ở 6 lĩnh vực chính: tổ chức bộ máy, đội ngũ nhân lực, tuyển sinh, chương trình học, tài chinh và đánh giá. Kế hoạch hóa là bước thực hiện của chiến lược giáo dục. Kế hoạch hóa yếu thì công tác dự báo yếu, không gắn với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, và không đáp ứng được nhu cầu xã hội. Đã đến lúc cần có cái nhìn mới về công tác kế hoạch hóa giáo dục, kể cả việc xây dụng ngành học Kế hoạch chiến lược giáo dục.

7.      Ngoài việc xây dựng các đại học đẳng cấp quốc tế, nên khuyến khích và tăng cường đầu tư cho các trường hiện có đủ điều kiện phấn đấu thành đẳng cấp quốc tế.  Hợp tác quốc tế là con đường ngắn nhất để thực hiện mục tiêu này.

8.      Về cơ bản, giáo dục đại học nước ta hiện nay vẫn là giáo dục cho số ít (elite higher education) khi trên dưới 15% thanh niên trong độ tuổi vào đại học. Thiếu tính cạnh tranh cao như thường thấy ở các nước, nên chất lượng giáo dục càng cần được đảm bảo và thực hiện nghiêm túc, nhất quán bằng các qui định, chinh sách của nhà nước. Giữ vững phân tầng đại học là góp phần nâng cao chất lượng. 

9.      Phân tầng đại học chinh là cơ sở để chuẩn bị cho tương lai 5, 10 năm nữa, khi hệ thống đại học Việt Nam trở thành đại chúng (mass higher education), trong đó phải tính toán cụ thể và khoa đến các yếu tố số lượng trường, số lượng đội ngũ nhân lực được đào tạo ở các trình độ và nhu cầu khác nhau của xã hội.

10.  Cuối cùng, để kiểm định chất lượng có chất lượng trở thành hoạt động trung tâm của giáo dục đại học, cần có thêm các tổ chức độc lập, khách quan tham gia. Đó có thể là các hiệp hội chuyên ngành hay tổ chức quốc tế nhưng có hiểu biết và kinh nghiệm chuyên môn về kiểm định giáo dục, có liên kết và hỗ trợ của quốc tế để dễ xác định, đối chiếu các tiêu chí, tiêu chuẩn và chỉ số. Công tác kiểm định, theo kinh nghiệm quốc tế, là tự nguyện, nhưng kết quả kiểm định lại có giá trị rất lớn, là cơ sở tồn tại hay đóng cửa trường đại học. 

Đỗ Huy Thịnh

                                        Trung tâm đào tạo khu vực SEAMEO – Việt Nam 

Tài liệu kèm theo :