VIỆN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP LIÊN BANG ĐỨC ĐÓNG GÓP NGHIÊN CỨU CỦA UNESCO-UNEVOC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

 Một nghiên cứu về thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ và thách thức đối với các chương trình Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đã được UNESCO-UNEVOC công bố với sự hỗ trợ của Viện GDNN Liên Bang Đức (BIBB). GDNN liên quan đến STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học) có vai trò quan trọng tiềm tàng trong việc cung cấp các kỹ năng và năng lực cần thiết để hỗ trợ đổi mới, năng suất và khả năng cạnh tranh quốc tế cũng như các lĩnh vực phát triển xã hội bao gồm y tế và giáo dục. Ngay cả khi các môn học và kỹ năng STEM ngày càng trở nên thiết yếu hơn trong thế giới ngày nay, thì sự chênh lệch giới tính vẫn phổ biến trong các lĩnh vực này. Vì khoảng cách về dữ liệu và tài liệu dành riêng cho GDNN, UNESCO-UNEVOC đã tiến hành nghiên cứu về Thúc đẩy bình đẳng giới trong khoa học và công nghệ. (BIBB)

Tổng quan về các chiến lược của chính phủ để thúc đẩy bình đẳng giới trong GDNN liên quan đến STEM

10 nghiên cứu cho thấy ở tất cả các quốc gia, các chính sách của chính phủ đã được phát triển nhằm giải quyết (một phần) việc thúc đẩy GDNN về STEM. Việc khuyến khích này thường tập trung vào chất lượng của GDNN về STEM và sự gia tăng số lượng người học các môn học này. Chỉ một số chính sách này tập trung vào giới tính, bình đẳng giới hoặc sự tham gia của em gái và phụ nữ. Dường như có một khoảng trống ở đó. Các chính sách này không phải lúc nào cũng đề cập đến giới hoặc bình đẳng giới một cách rõ ràng, ngay cả khi các chính sách này được đề cập đến khi nói về giới tính. Mặt khác, có các chính sách cụ thể của GDNN về STEM tập trung vào đối phó với các thách thức về giới tính. Các chính sách này có thể được phân thành hai loại chính: (i) các chiến lược nhằm đặc biệt vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo để giải quyết sự chênh lệch giới trong các môn STEM; và (ii) các chiến lược nhằm giảm bớt sự chênh lệch về giới trong các nghề liên quan đến STEM có tác động đến hệ thống giáo dục và đào tạo. (BIBB)
Kết Luận Và Đề Xuất
Nhìn chung, chúng tôi có thể kết luận rằng chưa có định nghĩa chung được chấp nhận trong GDNN liên quan đến STEM và điều này có thể được giải thích một phần do nghiên cứu về chủ đề cụ thể này do các cơ quan quốc tế và quốc gia thực hiện còn hạn chế.
Việc thiếu định nghĩa rõ ràng và phổ biến này cản trở việc thu thập dữ liệu và thông tin từ các quốc gia khác nhau.
Nhìn chung, số liệu nhận được từ các trường hợp quốc gia cho thấy sự thiếu vắng của trẻ em gái và phụ nữ trong GDNN liên quan đến STEM.
Mặc dù tỷ lệ nữ tham gia vào GDNN liên quan đến STEM tăng rất khiêm tốn trong những năm gần đây, nhưng chúng ta vẫn có thể thấy thiếu sót của mô hình giữa GDNN liên quan đến STEM và các nghề về STEM hoặc giáo dục đại học về STEM.
Mặc dù các phương pháp tiếp cận dường như thành công để thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong GDNN liên quan đến STEM, điều này vẫn dẫn tới trong sự gia tăng nhanh và bền vững về sự tham gia của trẻ em gái và phụ nữ.
Sự tồn tại của các luật, chính sách và/hoặc các biện pháp can thiệp cụ thể nhằm giải quyết sự khác biệt về giới trong GDNN liên quan đến STEM dường như còn khá hạn chế. Trong nhiều trường hợp, các chiến lược hoặc các hành động đơn lẻ trong các chính sách rộng lớn hơn để khuyến khích (phụ nữ) tham gia vào GDNN liên quan đến STEM hướng đến một phản ứng mang tính hệ thống, bằng cách đồng thời nhắm vào các phần khác nhau của hệ thống. Ở một số quốc gia có thu nhập trung bình và thấp, các chính sách và hành động tập trung vào bình đẳng giới trong GDNN được các nhà tài trợ thúc đẩy, như trường hợp của Ghana và Lebanon.
Mặc dù các báo cáo có ảnh hưởng như Cracking the Code đã cung cấp những hiểu biết hữu ích về giới tính liên quan đến giáo dục STEM và do đó đóng vai trò như một điểm khởi hành hữu ích cho nghiên cứu hiện tại, vẫn cần nghiên cứu thêm về cách những hiểu biết này liên quan đến bối cảnh cụ thể của GDNN liên quan đến STEM.
Bằng chứng hiện có là trong khi các yếu tố sinh học, bao gồm cấu tạo di truyền, cấu trúc của não, hormone và sức mạnh thể chất, có ảnh hưởng đến sự tham gia và hiệu suất của phụ nữ trong GDNN liên quan đến STEM, chúng không phải là yếu tố quyết định.
Ở cấp độ tâm lý, định kiến về giới được xác định là đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhận dạng giới ảnh hưởng đến STEM.
Niềm tin và thái độ của bạn bè và đặc biệt là của cha mẹ, kể cả của người cha, có thể đóng một vai trò quan trọng trong cả việc ngăn ngừa và tạo điều kiện cho trẻ em gái tham gia vào GDNN về STEM.
Các yếu tố cấp cơ sở dạy nghề đóng một vai trò trong mối quan hệ với sự tham gia và kết quả hoạt động, bao gồm văn hóa/đặc tính, giảng dạy, học tập và đánh giá, tính sẵn có và bản chất của tài liệu học tập…
Các yếu tố cấp độ tổ chức của thị trường lao động như văn hóa nơi làm việc, cơ sở hạ tầng, sự hiện diện của hình mẫu phụ nữ trong các công việc kỹ thuật (hồ sơ nhân viên) và sở thích thầm hoặc rõ ràng của người sử dụng lao động có vai trò liên quan đến sự tham gia của trẻ em gái và phụ nữ.
Một số biện pháp can thiệp đang được sử dụng ở cấp thể chế để giải quyết sự chênh lệch về giới trong việc tham gia và thực hiện nhưng chúng cần được đánh giá tốt hơn.
Một loạt các yếu tố xã hội cũng được xác định là đáng được nghiên cứu thêm, bao gồm tác động của các chuẩn mực và giá trị văn hóa theo giới tính, vai trò của truyền thông, tác động của chính sách và luật pháp của chính phủ…
Các chính phủ đã thông qua một loạt luật, chính sách và/hoặc các biện pháp can thiệp cụ thể để giải quyết sự chênh lệch giới trong giáo dục STEM. Tuy nhiên, tổng thể còn yếu trong việc triển khai và giám sát, đánh giá việc thực hiện.
Theo chỉ ra của Trung tâm UNEVOC tại Philippines, những thách thức chính phải đối mặt trong nỗ lực thúc đẩy sự tham gia và thành tích của phụ nữ trong các lĩnh vực liên quan đến GDNN về STEM chuyển đổi sang các nghề liên quan đến STEM là xác định định nghĩa trên quy mô quốc gia về STEM và GDNN về STEM.
Hướng nghiệp, huấn luyện và cố vấn là những công cụ mà qua đó các cơ sở GDNN có thể hỗ trợ trẻ em gái phát triển những hình ảnh thực tế nhưng cũng hấp dẫn về nghề nghiệp STEM, để đưa ra những lựa chọn sáng suốt và thảo luận và vượt qua những rào cản và thách thức giới tính cụ thể.
Cần phải phát triển các chỉ số ở cấp quốc gia mà trong khi bổ sung cho các chỉ số toàn cầu (do đó cho phép so sánh quốc tế) cũng có thể được sử dụng để đo lường sự tiến bộ đối với bình đẳng giới liên quan đến các ưu tiên STEM của địa phương.
Cần có dữ liệu, đặc biệt là ở cấp quốc gia, có thể được sử dụng để đo lường sự thay đổi của các mô hình tham gia và hiệu quả hoạt động của trẻ em gái và phụ nữ theo thời gian trong GDNN về  STEM.
Nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung hữu ích vào các điểm chuyển đổi giữa các cấp độ khác nhau của GDNN về STEM và giữa các cấp độ khác nhau của GDNN về STEM và thị trường lao động.
Mặc dù bằng chứng hiện có liên quan đến sự tham gia và hiệu quả của trẻ em gái và phụ nữ trong giáo dục STEM có thể cung cấp một điểm khởi đầu hữu ích, nhưng vẫn cần nghiên cứu thêm về các yếu tố cá nhân, thể chế và xã hội ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong GDNN liên quan đến STEM.
Để thực sự nắm bắt được các khả năng cải thiện và tác động của các can thiệp và sáng kiến khác nhau diễn ra ở cấp độ cá nhân, thể chế và/hoặc xã hội, cần có thêm nghiên cứu về tác động của các loại can thiệp này đối với sự tham gia và hiệu suất của phụ nữ trong GDNN liên quan đến STEM. (BIBB)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *